Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2020

Ẩn họa Covid-19 trong vòng một mét trên máy bay

Nghiên cứu cho thấy những giọt bắn khi người ho hay hắt hơi sẽ rơi trong bán kính một mét, ảnh hưởng người ngồi máy bay phạm vi 2-3 hàng ghế.
Sự lây truyền Covid-19 từ người sang người chủ yếu qua các giọt bắn, thường không bị ảnh hưởng bởi không khí. Giọt bắn rơi khá gần nơi phát sinh nguồn lây nhiễm, trong phạm vi một mét trở lại. Đó là lý do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa một bệnh nhân Covid-19 có thể lây cho người khác ở phạm vi 2-3 hàng ghế. Trong khi đó, nguy cơ nhiễm bệnh cho người ngoài phạm vi này thấp hơn nhiều.
Nhân viên y tế khử trùng máy bay của hãng Vietnam Airline để phòng virus corona. Ảnh: Ngọc Thành. 
Nhân viên y tế khử trùng máy bay của hãng Vietnam Airline để phòng virus corona. Ảnh: Ngọc Thành.
Giáo sư Howie Weiss, Trung tâm Động lực học truyền nhiễm, Đại học Pennsylvania, Mỹ ,cho biết 5 năm trước, khi giảng dạy tại Học viện Công nghệ Georgia, ông đã thực hiện một nghiên cứu, hợp tác với Trường Y tế Công cộng Emory về các vấn đề về bệnh truyền nhiễm trong khoang máy bay. 
10 chuyến bay nội địa ở Mỹ có thời lượng 3-5 giờ, chở khoảng 1.500 hành khách và phi hành đoàn đã tham gia vào nghiên cứu.
"Chúng tôi có 10 sinh viên tốt nghiệp đi trên mỗi chuyến bay ghi lại tất cả các hành vi, tần suất di chuyển và vị trí của các hành khách, phi hành đoàn trong khoang. Nghiên cứu cho thấy bất cứ ai ở trong phạm vi một mét cũng sẽ được khoanh vùng để xem mức độ lây lan", giáo sư Howie Weiss cho biết.
Nghiên cứu tập trung vào việc truyền bệnh cúm hoặc các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp khác chủ yếu lây lan qua giọt bắn khi nói chuyện, ho, hắt hơi...
"Những giọt bắn sẽ rơi trong vòng một mét tính từ người ho. Đó là cơ hội lý tưởng lây bệnh cho hành khách ngồi trong phạm vi này. Những người khác không nằm trong phạm vi này, nguy cơ nhiễm bệnh tương đối nhỏ", ông Weiss chia sẻ thêm.
Nghiên cứu cũng cho thấy ghế ngồi ở khu vực cửa sổ là lý tưởng nhất để giảm nguy cơ nhiễm bệnh. "Chúng tôi nhận thấy, nếu ngồi ở ngay khu vực lối đi, bạn sẽ luôn trong phạm vi một mét của bất cứ ai đi qua đó. Trong khi khu vực cửa sổ sẽ cách xa hơn. Điều đó có nghĩa là nếu ngồi cố định ở khu vực cửa sổ, bạn sẽ không có nguy cơ nhiễm bệnh". Tuy nhiên, giáo sư Weiss lưu ý rằng việc ngồi cạnh cửa sổ sẽ không an toàn nếu cấu hình của máy bay chỉ có hai chỗ ngồi tại khu vực cửa sổ.
Giáo sư Howie Weiss nói rằng nghiên cứu của ông không bao gồm lây truyền gián tiếp, tức mầm bệnh được truyền bởi một hành khách chạm vào một vật mà trước đó người bệnh chạm vào.
Phi công người Mỹ, Patrick Smith, chủ nhân blog nổi tiếng Ask The Pilot và tác giả của cuốn Tuyệt mật trong buồng lái cho rằng các hệ thống lọc trên máy bay xử lý 94-99,9% vi khuẩn trong không khí. Việc thay đổi thường xuyên không khí trong khoang máy bay đem lại luồng khí trong lành hơn nhiều so với ngồi làm việc tại văn phòng, đến lớp học, rạp chiếu phim...
Smith cũng cho rằng trừ khi bạn ngồi rất gần người bị nhiễm bệnh hoặc nghi nhiễm, còn lại thì khả năng lây bệnh trên máy bay cực thấp.
"Một người nhiễm bệnh trên máy bay thường là do họ chạm vào vật có khả năng lây nhiễm chứ không phải từ việc hít thở. Do đó, dung dịch khử trùng tay có lẽ là biện pháp phòng chống nhiễm bệnh tốt hơn so với việc đeo khẩu trang khi bạn đi máy bay", Smith khuyên.
Những bước đơn giản để bảo vệ sức khỏe trên chuyến bay:
Tránh ngồi gần những người có triệu chứng bệnh đường hô hấp.
Ngồi ở khu vực cửa sổ, xa lối đi.
Tránh đi lại trong máy bay.
Không chạm tay vào bất cứ vật gì trên máy bay.
Sau khi đi vệ sinh cần rửa tay sạch với xà phòng và nước hoặc dung dịch sát khuẩn trước khi trở về chỗ ngồi. Đừng quên rửa tay đúng cách với xà phòng trong ít nhất 20 giây để đảm bảo sát khuẩn hiệu quả.

Hơn 1/2 ca nhiễm nCoV ở Hàn Quốc liên quan tới Tân Thiên Địa

54,7% số ca nhiễm virus corona tại Hàn Quốc có liên quan tới Tân Thiên Địa, giáo phái mà bệnh nhân siêu lây nhiễm là thành viên.
Dữ liệu ngày 23/2 do Trung tâm Kiểm soát và Ngăn ngừa Dịch bệnh Hàn Quốc (KCDC) công bố cho thấy 329/602 ca nhiễm nCoV tại Hàn Quốc có liên quan tới các thành viên của giáo phái Shincheonji (Tân Thiên Địa) hoặc là những người từng tiếp xúc với họ. Tỷ lệ này chiếm 54,7%.
Nhân viên y tế tẩy trùng một khu chợ ở Daegu ngày 23/2. Ảnh: AFP.
Nhân viên y tế tẩy trùng một khu chợ ở Daegu ngày 23/2. Ảnh: AFP.
KCDC trước đó cho biết họ đã yêu cầu hơn 9.300 thành viên Tân Thiên Địa tự cách ly. Trong số đó, 1.248 người đã có các triệu chứng của dịch Covid-19.
Giáo phái Tân Thiên Địa trở thành tâm điểm chú ý của đợt bùng phát dịch Covid-19 tại Daegu, thành phố lớn thứ 4 Hàn Quốc với 2,5 triệu dân, sau khi một nữ tín đồ 61 tuổi lây virus cho hàng chục người khác.
Bà này được gọi là "Bệnh nhân thứ 31", nhập viện hôm 8/2 vì tai nạn giao thông nhưng hai lần từ chối xét nghiệm nCoV. Bà sau đó đi nhà thờ của Tân Thiên Địa 4 lần và được xác nhận dương tính với nCoV hôm 18/2. Khoảng 9.300 thành viên giáo phái đã được yêu cầu tự cách ly hoặc không ra khỏi nhà. Tân Thiên Địa bị giáo hội Cơ đốc giáo chính thống coi là dị giáo.
Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in sáng qua cho hay chính phủ quyết định nâng cảnh báo nCoV lên mức cao nhất, đồng thời kêu gọi giới chức y tế thực hiện "những biện pháp chưa từng có tiền lệ" nhằm ngăn chặn dịch bệnh lây lan. Ông cũng kêu gọi các tín đồ Tân Thiên Địa hợp tác với chính quyền.

Italy chạy đua ngăn nCoV lây lan

Italy phong tỏa những thị trấn bị ảnh hưởng nặng và cấm tụ họp nơi công cộng ở hầu hết các khu vực phía bắc nhằm ngăn nCoV lây lan.
Chính quyền vùng Lombardy và Veneto, nơi dịch Covid-19 bùng phát và đang có dấu hiệu lây lan mạnh mẽ ở Italy, đã yêu cầu các trường học, kể cả trường đại học, ngừng hoạt động trong ít nhất một tuần, đóng cửa bảo tàng, rạp chiếu phim, đồng thời hủy hai ngày cuối của Carnival Venice.
"Bắt đầu từ tối nay, sẽ có lệnh cấm được đưa ra đối với Carnival Venice cũng như tất cả những sự kiện khác, bao gồm cả sự kiện thể thao, đến ngày 1/3", thống đốc vùng Veneto Luca Zaia ngày 23/2 phát biểu trước báo giới.
Cảnh sát kiểm tra một chiếc xe tại lối vào thị trấn Casalpusterlengo, đông nam thành phố Milan, Italy, ngày 23/2. Ảnh: AFP.
Cảnh sát kiểm tra một chiếc xe tại lối vào thị trấn Casalpusterlengo, đông nam thành phố Milan, Italy, ngày 23/2. Ảnh: AFP.
Từ 21/2 đến 22/2, số ca nhiễm nCoV ở Lombardy đã tăng từ 54 lên 90 ca, trong khi Veneto ghi nhận 25 ca nhiễm.
Giới chức y tế cho biết đã cách ly các trường hợp nhiễm và nghi nhiễm tại các khu vực Piedmont và Emilia Romagna lân cận, nói thêm rằng tổng số ca nhiễm nCoV ở Italy đã tăng lên 132. Italy đến nay ghi nhận ba ca tử vong vì nCoV.
Thống đốc Zaia cho hay ông đã đối phó với nhiều thảm họa tự nhiên suốt sự nghiệp của mình nhưng "đây là vấn đề tồi tệ nhất mà Veneto từng đối mặt".
Hơn 10 thị trấn ở Lombardy và Veneto với dân số khoảng 50.000 người đã bị đặt trong tình trạng cách ly. Người dân địa phương được yêu cầu không ra khỏi nhà và phải có giấy phép nếu muốn vào hoặc ra khỏi một số khu vực chỉ định.
Các trường đại học ở hầu hết các khu vực phía bắc Italy sẽ đóng cửa đến đầu tháng ba và 4 trận đấu bóng đá trong giải Serie A dự kiến diễn ra vào ngày 23/2 đã bị hoãn.
Lombardy và Veneto đóng góp khoảng 30% tổng sản lượng quốc nội của Italy. Bất kỳ bất ổn kéo dài nào đối với hai khu vực này đều có khả năng gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới toàn bộ nền kinh tế.
Nhà chức trách Italy đang nỗ lực tìm hiểu lý do dịch bệnh bùng phát. Những ca nhiễm mới đầu tiên được thông báo hôm 21/2 và bác sĩ vẫn chưa biết nguồn lây bệnh từ đâu.
Một doanh nhân ở Lombardy ban đầu bị nghi ngờ vì ông vừa trở về từ tâm dịch Trung Quốc song xét nghiệm cho thấy kết quả âm tính. Tại Veneto, các bác sĩ đã kiểm tra một nhóm 8 du khách Trung Quốc từng đến thị trấn nơi có ca tử vong đầu tiên nhưng kết quả cũng âm tính.
"Chúng tôi hiện tại thậm chí còn lo lắng hơn bởi chúng tôi không thể tìm ra 'bệnh nhân số 0'", Thống đốc Zaia nói. Trước ngày 21/2, Italy chỉ có 3 trường hợp nhiễm virus, tất cả những người này đều từ Vũ Hán trở về.
Dịch Covid-19 đã xuất hiện tại 31 quốc gia và vùng lãnh thổ sau khi khởi phát tại Vũ Hán, Trung Quốc, vào tháng 12/2019. Thế giới hiện ghi nhận 2.465 người chết, 78.771 người nhiễm nCoV, trong đó 23.166 người đã bình phục. Tổng cộng 20 người chết vì nCoV được ghi nhận ngoài Trung Quốc đại lục, gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp, Philippines, Đài Loan, Hong Kong, Iran và Italy.

Những yếu tố có thể tạo ra ổ dịch Covid-19

Dân cư đông đúc, hệ thống y tế cộng đồng nghèo nàn, nhân lực và vật lực thiếu thốn có thể góp phần biến một địa phương thành ổ dịch.
Diễn biến của dịch Covid-19 rất khó dự đoán. Ảnh: Light Rocket.
Diễn biến của dịch Covid-19 rất khó dự đoán. Ảnh: Light Rocket.
Trong khi số ca nhiễm Covid-19 mới có chiều hướng giảm Trung Quốc, ngày càng nhiều nước phát hiện thêm những trường hợp dương tính với nCoV, nhiều nơi trong số đó không có mối liên hệ nào với tâm dịch. 6 người chết do nCoV ở Iran trong vài ngày qua, một người nước ngoài được chẩn đoán nhiễm virus ở Ai Cập và trường hợp đầu tiên mắc Covid-19 được ghi nhận ở Lebanon, biến nước này thành quốc gia thứ 30 trên thế giới xuất hiện dịch.
Các ca nhiễm bệnh ở Iran không có mối liên quan tới Vũ Hán, và trường hợp ở Lebanon là một phụ nữ trở về từ thành phố Qom của Iran, chứng tỏ virus lây lan giữa những người không đến từ nơi khởi phát dịch. Tổ chức Y tế Thế giới cho biết xu hướng này rất đáng lo ngại. Số ca lây nhiễm bên ngoài Trung Quốc đại lục hiện nay đã vượt con số 1.000, trong đó có 21 ca tử vong.
Biện pháp đang được áp dụng phổ biến là cách ly, nhưng các chuyên gia chưa rõ liệu biện pháp này có tiếp tục đem lại hiệu quả hay không. Họ cũng không chắc chắn liệu mọi quốc gia có đủ khả năng cách ly và điều trị cho bệnh nhân Covid-19. "Nhiều nơi chưa có biện pháp chuẩn bị đối phó bệnh dịch. Ngoài ra, ngay cả khi có đủ ngân sách để xử lý vấn đề, họ có thể không đủ khả năng rà soát hoặc cách ly những ca được xác nhận", Emily Ricotta, nghiên cứu viên ở Viện dị ứng và bệnh truyền nhiễm Mỹ, cho biết.
Theo Ricotta, đó là tình huống của Liberia trong khủng hoảng dịch Ebola năm 2014. Dù đất nước này nhận được các khoản tài trợ để xử lý dịch bệnh, họ vẫn thiếu trang thiết bị cần thiết và nhân lực để áp dụng biện pháp phòng chống dịch, buộc những tổ chức quốc tế phải can thiệp bằng cách xây dựng cơ sở khám chữa bệnh.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tuyên bố Covid-19 là tình trạng y tế khẩn cấp toàn cầu hôm 30/1, nhưng tổ chức này chưa gọi đó là đại dịch, bởi phần lớn ca lây nhiễm từ người sang người chỉ xảy ra ở Trung Quốc. Để một dịch bệnh được coi là đại dịch, các ca lây nhiễm cần xuất hiện liên tục trong thời gian dài ở nhiều địa phương.
Sharon Lewis, giám đốc Viện truyền nhiễm và miễn dịch Peter Doherty ở Melbourne, Australia, cho biết rất khó để xác định nơi cụ thể có nguy cơ trở thành ổ virus bởi biện pháp giảm lây lan chính hiện nay là cách ly. Tuy nhiên, tới một lúc nào đó, cách ly sẽ không còn hiệu quả nữa.  
Theo các chuyên gia khác, có thể tồn tại tiêu chí để xác định một địa phương có thể thúc đẩy sự lây lan của virus hay không. Keiji Fukuda, giám đốc kiêm giáo sư lâm sàng ở Trường Y tế Cộng đồng thuộc Đại học Hong Kong, dự đoán những nơi đông đúc có thể có lượng lớn cư dân nhiễm virus.
Robert Kim-Farley, giáo sư ở Trường Y tế Cộng đồng Fielding của Đại học California, Los Angeles, bày tỏ lo ngại về sự lây lan của virus ở các nước nghèo và đông dân, hoặc không có tài nguyên để rà soát và điều trị người nhiễm nCoV. Theo Kim-Farley, một vài yếu tố có thể khiến một địa phương đặc biệt dễ bị tác động bởi dịch bệnh. Những nơi đông dân cho phép virus lây lan dễ hơn, hệ thống y tế cộng đồng nghèo nàn khiến việc phát hiện virus khó khăn, nhân lực và vật lực thiếu thốn sẽ không thể đảm bảo cách ly hiệu quả người nhiễm hoặc nghi nhiễm virus.
Lewis cũng nhận định những nước thu nhập thấp và trung bình có thể thiếu tài nguyên và phòng thí nghiệm để xét nghiệm virus, làm tăng khả năng lây nhiễm. "Nếu bạn không thể phát hiện sớm ai đó mang virus và cách ly họ, họ có thể truyền virus sang nhiều người khác nữa", Lewis nói.
Kim-Farley và nhiều chuyên gia khác cho rằng dịch bệnh có thể diễn biến theo vài kịch bản. Covid-19 có thể bị dập tắt như SARS hoặc lan sang các nước, bao gồm những quốc gia đang phát triển, và trở thành bệnh đặc hữu như cúm. Theo Kim-Farley, thế giới đang cảnh giác với mối đe dọa từ nCoV, nhưng trong tình hình ngày càng nhiều ca nhiễm, chúng ta có thể cần thêm biện pháp mới ngoài cách ly.

Thứ Hai, 13 tháng 1, 2020

Lý do bạn nên ăn cà tím

Cà tím giàu vitamin, chất khoáng, chất chống oxy hóa giúp phòng bệnh tim mạch, hỗ trợ giảm cân, kiểm soát lượng đường trong máu.
Giảm nguy cơ bệnh tim mạch
Vitamin P trong cà tím có thể phòng ngừa bệnh cao huyết áp, xơ cứng động mạch. Thành phần kali giúp ổn định hoạt động của tim. Chất nhày của cà tím làm giảm triglycerid và cholesterol, giảm cholesterol xấu và chất béo trung tính. Chính vì thế, các nhà dinh dưỡng thường khuyên người muốn phòng bệnh tim mạch nên ăn cà tím.
Kiểm soát lượng đường trong máu
Cà tím giàu chất xơ, polyphenol giúp giảm lượng đường trong máu và khả năng hấp thụ đường trong cơ thể, qua đó ổn định đường huyết.
Hỗ trợ giảm cân
Cà tím nhiều chất xơ, các vitamin A, B, C, K, P, axit folic; giàu chất khoáng như kali, magiê, canxi và phốt pho. Do đó ăn cà tím có thể phòng nguy cơ đái tháo đường tuýp 2.
Một chén cà tím (khoảng 80 g) chứa 20 g calo, 5 g tinh bột, 3 g chất xơ, 1 g protein và không có chất béo. Do đó, cà tím phù hợp để ăn kiêng.
Phòng ngừa ung thư
Giống như các thực phẩm màu tím khác, cà tím chứa một số chất có tác dụng chống lại các tế bào ung thư như solasodine rhamnosyl glycosides (SRG). Cà tím cũng rất giàu anthocyanin, là một sắc tố có đặc tính chống oxy hóa đồng thời tạo vỏ màu tím cho quả cà, tác dụng chống ung thư. 
Bạn có thể kết hợp cà tím với nhiều thực phẩm khác cho phù hợp với nhu cầu và chế độ ăn của bản thân và gia đình. Các món ăn từ cà tím dễ chế biến và đảm bảo dinh dưỡng.

Xuyên đêm cứu bệnh nhân vỡ tim

Nữ bệnh nhân 39 tuổi phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả, bị tai nạn giao thông, ngưng tim.
Bệnh nhân được kíp cấp cứu 115 ngày 10/1 sơ cứu ngừng tuần hoàn, hồi sức tim, sau đó chuyển vào Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh. Bệnh nhân bị đa chấn thương ở ngực và bụng, sốc nặng, lơ mơ, toàn thân tím tái, huyết áp thấp, mạch ngoại vi không bắt được, tình trạng nguy kịch.
Các bác sĩ đã hồi sức tích cực cho bệnh nhân, kết quả chụp chiếu phát hiện tim vỡ gây chảy máu, tràn dịch màng tim chèn ép làm tim ngừng đập. 
Bệnh viện kích hoạt hệ thống báo động đỏ, huy động các bác sĩ chuyên khoa hồi sức, gây mê vừa hồi sức tim vừa chuyển thẳng bệnh nhân vào phòng mổ để phẫu thuật cấp cứu ngay trong đêm.
Kíp phẫu thuật do bác sĩ Phạm Việt Hùng - Trưởng khoa Ngoại, làm kíp trưởng, phát hiện xương ức bệnh nhân bị gãy nhiều đoạn do chấn thương, nhiều máu cục trong màng tim. Kíp mổ quyết định sử dụng hệ thống tuần hoàn ngoài cơ thể trong quá trình mổ cho bệnh nhân. Ca phẫu thuật kéo dài 4 giờ, tổn thương được xử trí an toàn, đường vỡ tim được khâu lại, nhịp đập tim ổn định. Sau khi kiểm tra không thấy có thêm tổn thương nào khác, kíp mổ tiến hành rút máy tim phổi nhân tạo, đặt dẫn lưu và đóng lồng ngực.
Ngày 12/1, bệnh nhân tỉnh táo, ăn uống, đi lại bình thường, các chức năng tim mạch ổn định, các tổn thương khác vùng ngực và bụng tiến triển tốt.
Bệnh nhân chia sẻ: "Mở mắt ra thấy mình vẫn sống thực sự không còn niềm vui mừng nào hơn thế".
Bệnh nhân vỡ tim cười rạng rỡ và đi lại dễ dàng sau 2 ngày phẫu thuật. Ảnh: Bệnh viện cung cấp
Bệnh nhân vui mừng đi lại sau 2 ngày phẫu thuật. Ảnh: Bệnh viện cung cấp
Bác sĩ Phạm Việt Hùng cho biết vỡ tim là tổn thương rất nặng nề, phần lớn bệnh nhân sẽ tử vong ngoại viện trong thời gian ngắn vì mất máu cấp hoặc bị chèn ép tim cấp gây ngừng tim. Trường hợp bệnh nhân này khá may mắn. 
Đây là lần đầu tiên bác sĩ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh thực hiện mổ tim hở cho bệnh nhân bị vỡ tim trong tình trạng sốc đa chấn thương phải chạy máy tim phổi nhân tạo. 

Trầm cảm - bệnh hủy hoại dần ý thức sống

Trầm cảm là rối loạn tâm thần phổ biến hiện nay, xảy ra mọi lứa tuổi và có thể dẫn người bệnh đến kết cục tự chấm dứt cuộc đời.
Tiến sĩ, bác sĩ Trần Nguyên Ngọc, Trưởng phòng Điều trị Rối loạn Aảm xúc, Viện Sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội, cho biết trầm cảm hiện thường gặp trong cộng đồng. Giai đoạn trầm cảm khởi đầu cho các rối loạn cảm xúc tiếp theo, có thể diễn ra theo nhiều hình thái khác nhau như rối loạn cảm xúc lưỡng cực hoặc rối loạn trầm cảm tái diễn...
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ước tính có khoảng 340 triệu người trên thế giới mắc trầm cảm và ít nhất 15% dân số có biểu hiện trầm cảm rõ rệt ở một giai đoạn nào đó trong cuộc sống. Năm 2000, trầm cảm đứng thứ 4 trong 15 bệnh gây gánh nặng bệnh tật toàn cầu, dự đoán cho đến năm 2020 căn bệnh này đứng thứ 2 và năm 2030 sẽ leo lên vị trí thứ nhất.
Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, đặc biệt từ 25 đến 44, trong đó bệnh nhân nữ gấp đôi nam. Phụ nữ sau mãn kinh có nguy cơ mắc trầm cảm gấp 2 lần so với chưa mãn kinh. Tại các cơ sở y tế chuyên khoa, số lượng bệnh nhân đến thăm khám các bệnh lý liên quan đến trầm cảm tăng 20-30% mỗi năm. 
Việt Nam có khoảng 3 triệu thanh, thiếu niên có các vấn đề về sức khỏe tâm lý, tâm thần. Chỉ khoảng 20% trong số đó nhận được hỗ trợ y tế và điều trị cần thiết, theo nghiên cứu của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF).
Thời kỳ Hy Lạp cổ đại, trầm cảm được cho là một bệnh lý do sự mất cân bằng các chất dịch trong cơ thể. Cha đẻ của ngành y học thế giới, thầy thuốc Hippocrates (năm 460 - 377 TCN) dùng thuật ngữ "sầu uất" xuất phát từ tiếng Hy Lạp cổ, để chỉ trầm cảm. Ông cho rằng quá nhiều mật đen trong lách gây ra các biểu hiện như sợ hãi và chán nản, thất vọng kéo dài.
Thế kỷ 14, thuật ngữ "trầm cảm" (depression) xuất phát từ động từ deprimere trong tiếng Latin, nghĩa là "đè nén" (press down), được sử dụng với ý nghĩa là sự đè nén, giảm sút nặng về tinh thần. 
Thế kỷ 20, Sigmund Freud đề cập tới cơ chế sự mất mát gây nên sầu uất nghiêm trọng, không chỉ trạng thái tiêu cực bên ngoài mà còn do cái tôi bên trong bị tổn thương gây suy giảm sự tự nhận thức, cảm giác tội lỗi, thấp kém và vô giá trị. 
Sau này, nghiên cứu chỉ ra rằng trầm cảm là do mất cân bằng các chất dẫn truyền thần kinh của não, mở ra hướng nghiên cứu về sự liên quan giữa thay đổi mức monoamine trong não với các triệu chứng trầm cảm, là cơ sở nghiên cứu bệnh sinh và điều trị trầm cảm.
Có nhiều cách phân loại rối loạn trầm cảm như phân loại theo nguyên nhân bao gồm trầm cảm nội sinh, tâm sinh, thực tổn. Phân loại theo mức độ bao gồm giai đoạn trầm cảm nhẹ, vừa, nặng. Phân loại theo sự có mặt của các triệu chứng loạn thần bao gồm trầm cảm có triệu chứng loạn thần và trầm cảm không có triệu chứng loạn thần. Phân loại theo sự có mặt của các triệu chứng cơ thể là trầm cảm có triệu chứng cơ thể và trầm cảm không có triệu chứng cơ thể.
Trầm cảm kéo dài để lại nhiều hậu quả nặng nề cho trẻ em về mặt phát triển xã hội, phát triển cảm xúc và học tập. Ảnh: Straitstimes
Trầm cảm kéo dài để lại nhiều hậu quả nặng nề cho trẻ em về mặt phát triển xã hội, phát triển cảm xúc và học tập. Ảnh: Straitstimes
Trầm cảm bao gồm 3 biểu hiện chính và 7 triệu chứng phổ biến, tồn tại trong khoảng ít nhất 2 tuần.
Biểu hiện chính là khí sắc trầm, mất quan tâm thích thú, giảm năng lượng dẫn đến mệt mỏi và giảm hoạt động. Triệu chứng phổ biến là giảm sút sự tập trung và sự chú ý, giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin, có ý tưởng bị tội và không xứng đáng với người khác. Trầm cảm khiến người mang bệnh bi quan, nhìn tương lai ảm đạm, có ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát, rối loạn giấc ngủ, ăn ít ngon miệng. Người bị trầm cảm có thể gây nguy hiểm đối với người khác như xô xát, cãi vã và giết người. 
Tuy nhiên, cần phân biệt trầm cảm với các rối loạn khác. Người bệnh có ảo giác như nghe tiếng nói lạ trong đầu hay nhìn thấy các hình ảnh khác thường và hoang tưởng điều kỳ lạ là dấu hiệu của rối loạn loạn thần cấp. Bệnh nhân có một giai đoạn hưng cảm kích thích, tăng khí sắc, nói nhanh là biểu hiện của rối loạn lưỡng cực. Bệnh nhân dùng rượu và ma túy có thể là rối loạn do sử dụng rượu hoặc rối loạn do dùng chất ma túy.
Để điều trị, bác sĩ căn cứ vào nguyên nhân và dạng rối loạn trầm cảm để dùng thuốc và trị liệu tâm lý, hành vi phù hợp. Người có dấu hiệu trầm cảm cần đến gặp bác sĩ để được tư vấn kịp thời, làm giảm và mất hoàn toàn các triệu chứng, phòng ngừa tái phát. 
Người bệnh không coi nhẹ triệu chứng trầm cảm, hãy kể hết triệu chứng cho bạn bè, cho người thân. Khi phát hiện người bị trầm cảm, phải trấn an, tìm hiểu, tìm cách quan tâm và giúp đi khám bác sĩ chuyên khoa sớm để tránh cơn trầm uất, thất thần quẫn trí. Bệnh nhân trầm cảm cần phải khám nhiều lần để điều trị, theo dõi đề phòng nặng thêm.

Cải thiện an ninh thực phẩm hộ gia đình phụ nữ nông thôn nghèo

Viện Dinh dưỡng (NIN) nghiên cứu cùng với các nhà khoa học của Đại học Ryers Canada với sự tài trợ của Tổ chức Nghiên Cứu Phát Triển Canada...