Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2020

Những yếu tố có thể tạo ra ổ dịch Covid-19

Dân cư đông đúc, hệ thống y tế cộng đồng nghèo nàn, nhân lực và vật lực thiếu thốn có thể góp phần biến một địa phương thành ổ dịch.
Diễn biến của dịch Covid-19 rất khó dự đoán. Ảnh: Light Rocket.
Diễn biến của dịch Covid-19 rất khó dự đoán. Ảnh: Light Rocket.
Trong khi số ca nhiễm Covid-19 mới có chiều hướng giảm Trung Quốc, ngày càng nhiều nước phát hiện thêm những trường hợp dương tính với nCoV, nhiều nơi trong số đó không có mối liên hệ nào với tâm dịch. 6 người chết do nCoV ở Iran trong vài ngày qua, một người nước ngoài được chẩn đoán nhiễm virus ở Ai Cập và trường hợp đầu tiên mắc Covid-19 được ghi nhận ở Lebanon, biến nước này thành quốc gia thứ 30 trên thế giới xuất hiện dịch.
Các ca nhiễm bệnh ở Iran không có mối liên quan tới Vũ Hán, và trường hợp ở Lebanon là một phụ nữ trở về từ thành phố Qom của Iran, chứng tỏ virus lây lan giữa những người không đến từ nơi khởi phát dịch. Tổ chức Y tế Thế giới cho biết xu hướng này rất đáng lo ngại. Số ca lây nhiễm bên ngoài Trung Quốc đại lục hiện nay đã vượt con số 1.000, trong đó có 21 ca tử vong.
Biện pháp đang được áp dụng phổ biến là cách ly, nhưng các chuyên gia chưa rõ liệu biện pháp này có tiếp tục đem lại hiệu quả hay không. Họ cũng không chắc chắn liệu mọi quốc gia có đủ khả năng cách ly và điều trị cho bệnh nhân Covid-19. "Nhiều nơi chưa có biện pháp chuẩn bị đối phó bệnh dịch. Ngoài ra, ngay cả khi có đủ ngân sách để xử lý vấn đề, họ có thể không đủ khả năng rà soát hoặc cách ly những ca được xác nhận", Emily Ricotta, nghiên cứu viên ở Viện dị ứng và bệnh truyền nhiễm Mỹ, cho biết.
Theo Ricotta, đó là tình huống của Liberia trong khủng hoảng dịch Ebola năm 2014. Dù đất nước này nhận được các khoản tài trợ để xử lý dịch bệnh, họ vẫn thiếu trang thiết bị cần thiết và nhân lực để áp dụng biện pháp phòng chống dịch, buộc những tổ chức quốc tế phải can thiệp bằng cách xây dựng cơ sở khám chữa bệnh.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tuyên bố Covid-19 là tình trạng y tế khẩn cấp toàn cầu hôm 30/1, nhưng tổ chức này chưa gọi đó là đại dịch, bởi phần lớn ca lây nhiễm từ người sang người chỉ xảy ra ở Trung Quốc. Để một dịch bệnh được coi là đại dịch, các ca lây nhiễm cần xuất hiện liên tục trong thời gian dài ở nhiều địa phương.
Sharon Lewis, giám đốc Viện truyền nhiễm và miễn dịch Peter Doherty ở Melbourne, Australia, cho biết rất khó để xác định nơi cụ thể có nguy cơ trở thành ổ virus bởi biện pháp giảm lây lan chính hiện nay là cách ly. Tuy nhiên, tới một lúc nào đó, cách ly sẽ không còn hiệu quả nữa.  
Theo các chuyên gia khác, có thể tồn tại tiêu chí để xác định một địa phương có thể thúc đẩy sự lây lan của virus hay không. Keiji Fukuda, giám đốc kiêm giáo sư lâm sàng ở Trường Y tế Cộng đồng thuộc Đại học Hong Kong, dự đoán những nơi đông đúc có thể có lượng lớn cư dân nhiễm virus.
Robert Kim-Farley, giáo sư ở Trường Y tế Cộng đồng Fielding của Đại học California, Los Angeles, bày tỏ lo ngại về sự lây lan của virus ở các nước nghèo và đông dân, hoặc không có tài nguyên để rà soát và điều trị người nhiễm nCoV. Theo Kim-Farley, một vài yếu tố có thể khiến một địa phương đặc biệt dễ bị tác động bởi dịch bệnh. Những nơi đông dân cho phép virus lây lan dễ hơn, hệ thống y tế cộng đồng nghèo nàn khiến việc phát hiện virus khó khăn, nhân lực và vật lực thiếu thốn sẽ không thể đảm bảo cách ly hiệu quả người nhiễm hoặc nghi nhiễm virus.
Lewis cũng nhận định những nước thu nhập thấp và trung bình có thể thiếu tài nguyên và phòng thí nghiệm để xét nghiệm virus, làm tăng khả năng lây nhiễm. "Nếu bạn không thể phát hiện sớm ai đó mang virus và cách ly họ, họ có thể truyền virus sang nhiều người khác nữa", Lewis nói.
Kim-Farley và nhiều chuyên gia khác cho rằng dịch bệnh có thể diễn biến theo vài kịch bản. Covid-19 có thể bị dập tắt như SARS hoặc lan sang các nước, bao gồm những quốc gia đang phát triển, và trở thành bệnh đặc hữu như cúm. Theo Kim-Farley, thế giới đang cảnh giác với mối đe dọa từ nCoV, nhưng trong tình hình ngày càng nhiều ca nhiễm, chúng ta có thể cần thêm biện pháp mới ngoài cách ly.

Thứ Hai, 13 tháng 1, 2020

Lý do bạn nên ăn cà tím

Cà tím giàu vitamin, chất khoáng, chất chống oxy hóa giúp phòng bệnh tim mạch, hỗ trợ giảm cân, kiểm soát lượng đường trong máu.
Giảm nguy cơ bệnh tim mạch
Vitamin P trong cà tím có thể phòng ngừa bệnh cao huyết áp, xơ cứng động mạch. Thành phần kali giúp ổn định hoạt động của tim. Chất nhày của cà tím làm giảm triglycerid và cholesterol, giảm cholesterol xấu và chất béo trung tính. Chính vì thế, các nhà dinh dưỡng thường khuyên người muốn phòng bệnh tim mạch nên ăn cà tím.
Kiểm soát lượng đường trong máu
Cà tím giàu chất xơ, polyphenol giúp giảm lượng đường trong máu và khả năng hấp thụ đường trong cơ thể, qua đó ổn định đường huyết.
Hỗ trợ giảm cân
Cà tím nhiều chất xơ, các vitamin A, B, C, K, P, axit folic; giàu chất khoáng như kali, magiê, canxi và phốt pho. Do đó ăn cà tím có thể phòng nguy cơ đái tháo đường tuýp 2.
Một chén cà tím (khoảng 80 g) chứa 20 g calo, 5 g tinh bột, 3 g chất xơ, 1 g protein và không có chất béo. Do đó, cà tím phù hợp để ăn kiêng.
Phòng ngừa ung thư
Giống như các thực phẩm màu tím khác, cà tím chứa một số chất có tác dụng chống lại các tế bào ung thư như solasodine rhamnosyl glycosides (SRG). Cà tím cũng rất giàu anthocyanin, là một sắc tố có đặc tính chống oxy hóa đồng thời tạo vỏ màu tím cho quả cà, tác dụng chống ung thư. 
Bạn có thể kết hợp cà tím với nhiều thực phẩm khác cho phù hợp với nhu cầu và chế độ ăn của bản thân và gia đình. Các món ăn từ cà tím dễ chế biến và đảm bảo dinh dưỡng.

Xuyên đêm cứu bệnh nhân vỡ tim

Nữ bệnh nhân 39 tuổi phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả, bị tai nạn giao thông, ngưng tim.
Bệnh nhân được kíp cấp cứu 115 ngày 10/1 sơ cứu ngừng tuần hoàn, hồi sức tim, sau đó chuyển vào Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh. Bệnh nhân bị đa chấn thương ở ngực và bụng, sốc nặng, lơ mơ, toàn thân tím tái, huyết áp thấp, mạch ngoại vi không bắt được, tình trạng nguy kịch.
Các bác sĩ đã hồi sức tích cực cho bệnh nhân, kết quả chụp chiếu phát hiện tim vỡ gây chảy máu, tràn dịch màng tim chèn ép làm tim ngừng đập. 
Bệnh viện kích hoạt hệ thống báo động đỏ, huy động các bác sĩ chuyên khoa hồi sức, gây mê vừa hồi sức tim vừa chuyển thẳng bệnh nhân vào phòng mổ để phẫu thuật cấp cứu ngay trong đêm.
Kíp phẫu thuật do bác sĩ Phạm Việt Hùng - Trưởng khoa Ngoại, làm kíp trưởng, phát hiện xương ức bệnh nhân bị gãy nhiều đoạn do chấn thương, nhiều máu cục trong màng tim. Kíp mổ quyết định sử dụng hệ thống tuần hoàn ngoài cơ thể trong quá trình mổ cho bệnh nhân. Ca phẫu thuật kéo dài 4 giờ, tổn thương được xử trí an toàn, đường vỡ tim được khâu lại, nhịp đập tim ổn định. Sau khi kiểm tra không thấy có thêm tổn thương nào khác, kíp mổ tiến hành rút máy tim phổi nhân tạo, đặt dẫn lưu và đóng lồng ngực.
Ngày 12/1, bệnh nhân tỉnh táo, ăn uống, đi lại bình thường, các chức năng tim mạch ổn định, các tổn thương khác vùng ngực và bụng tiến triển tốt.
Bệnh nhân chia sẻ: "Mở mắt ra thấy mình vẫn sống thực sự không còn niềm vui mừng nào hơn thế".
Bệnh nhân vỡ tim cười rạng rỡ và đi lại dễ dàng sau 2 ngày phẫu thuật. Ảnh: Bệnh viện cung cấp
Bệnh nhân vui mừng đi lại sau 2 ngày phẫu thuật. Ảnh: Bệnh viện cung cấp
Bác sĩ Phạm Việt Hùng cho biết vỡ tim là tổn thương rất nặng nề, phần lớn bệnh nhân sẽ tử vong ngoại viện trong thời gian ngắn vì mất máu cấp hoặc bị chèn ép tim cấp gây ngừng tim. Trường hợp bệnh nhân này khá may mắn. 
Đây là lần đầu tiên bác sĩ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh thực hiện mổ tim hở cho bệnh nhân bị vỡ tim trong tình trạng sốc đa chấn thương phải chạy máy tim phổi nhân tạo. 

Trầm cảm - bệnh hủy hoại dần ý thức sống

Trầm cảm là rối loạn tâm thần phổ biến hiện nay, xảy ra mọi lứa tuổi và có thể dẫn người bệnh đến kết cục tự chấm dứt cuộc đời.
Tiến sĩ, bác sĩ Trần Nguyên Ngọc, Trưởng phòng Điều trị Rối loạn Aảm xúc, Viện Sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội, cho biết trầm cảm hiện thường gặp trong cộng đồng. Giai đoạn trầm cảm khởi đầu cho các rối loạn cảm xúc tiếp theo, có thể diễn ra theo nhiều hình thái khác nhau như rối loạn cảm xúc lưỡng cực hoặc rối loạn trầm cảm tái diễn...
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ước tính có khoảng 340 triệu người trên thế giới mắc trầm cảm và ít nhất 15% dân số có biểu hiện trầm cảm rõ rệt ở một giai đoạn nào đó trong cuộc sống. Năm 2000, trầm cảm đứng thứ 4 trong 15 bệnh gây gánh nặng bệnh tật toàn cầu, dự đoán cho đến năm 2020 căn bệnh này đứng thứ 2 và năm 2030 sẽ leo lên vị trí thứ nhất.
Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, đặc biệt từ 25 đến 44, trong đó bệnh nhân nữ gấp đôi nam. Phụ nữ sau mãn kinh có nguy cơ mắc trầm cảm gấp 2 lần so với chưa mãn kinh. Tại các cơ sở y tế chuyên khoa, số lượng bệnh nhân đến thăm khám các bệnh lý liên quan đến trầm cảm tăng 20-30% mỗi năm. 
Việt Nam có khoảng 3 triệu thanh, thiếu niên có các vấn đề về sức khỏe tâm lý, tâm thần. Chỉ khoảng 20% trong số đó nhận được hỗ trợ y tế và điều trị cần thiết, theo nghiên cứu của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF).
Thời kỳ Hy Lạp cổ đại, trầm cảm được cho là một bệnh lý do sự mất cân bằng các chất dịch trong cơ thể. Cha đẻ của ngành y học thế giới, thầy thuốc Hippocrates (năm 460 - 377 TCN) dùng thuật ngữ "sầu uất" xuất phát từ tiếng Hy Lạp cổ, để chỉ trầm cảm. Ông cho rằng quá nhiều mật đen trong lách gây ra các biểu hiện như sợ hãi và chán nản, thất vọng kéo dài.
Thế kỷ 14, thuật ngữ "trầm cảm" (depression) xuất phát từ động từ deprimere trong tiếng Latin, nghĩa là "đè nén" (press down), được sử dụng với ý nghĩa là sự đè nén, giảm sút nặng về tinh thần. 
Thế kỷ 20, Sigmund Freud đề cập tới cơ chế sự mất mát gây nên sầu uất nghiêm trọng, không chỉ trạng thái tiêu cực bên ngoài mà còn do cái tôi bên trong bị tổn thương gây suy giảm sự tự nhận thức, cảm giác tội lỗi, thấp kém và vô giá trị. 
Sau này, nghiên cứu chỉ ra rằng trầm cảm là do mất cân bằng các chất dẫn truyền thần kinh của não, mở ra hướng nghiên cứu về sự liên quan giữa thay đổi mức monoamine trong não với các triệu chứng trầm cảm, là cơ sở nghiên cứu bệnh sinh và điều trị trầm cảm.
Có nhiều cách phân loại rối loạn trầm cảm như phân loại theo nguyên nhân bao gồm trầm cảm nội sinh, tâm sinh, thực tổn. Phân loại theo mức độ bao gồm giai đoạn trầm cảm nhẹ, vừa, nặng. Phân loại theo sự có mặt của các triệu chứng loạn thần bao gồm trầm cảm có triệu chứng loạn thần và trầm cảm không có triệu chứng loạn thần. Phân loại theo sự có mặt của các triệu chứng cơ thể là trầm cảm có triệu chứng cơ thể và trầm cảm không có triệu chứng cơ thể.
Trầm cảm kéo dài để lại nhiều hậu quả nặng nề cho trẻ em về mặt phát triển xã hội, phát triển cảm xúc và học tập. Ảnh: Straitstimes
Trầm cảm kéo dài để lại nhiều hậu quả nặng nề cho trẻ em về mặt phát triển xã hội, phát triển cảm xúc và học tập. Ảnh: Straitstimes
Trầm cảm bao gồm 3 biểu hiện chính và 7 triệu chứng phổ biến, tồn tại trong khoảng ít nhất 2 tuần.
Biểu hiện chính là khí sắc trầm, mất quan tâm thích thú, giảm năng lượng dẫn đến mệt mỏi và giảm hoạt động. Triệu chứng phổ biến là giảm sút sự tập trung và sự chú ý, giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin, có ý tưởng bị tội và không xứng đáng với người khác. Trầm cảm khiến người mang bệnh bi quan, nhìn tương lai ảm đạm, có ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát, rối loạn giấc ngủ, ăn ít ngon miệng. Người bị trầm cảm có thể gây nguy hiểm đối với người khác như xô xát, cãi vã và giết người. 
Tuy nhiên, cần phân biệt trầm cảm với các rối loạn khác. Người bệnh có ảo giác như nghe tiếng nói lạ trong đầu hay nhìn thấy các hình ảnh khác thường và hoang tưởng điều kỳ lạ là dấu hiệu của rối loạn loạn thần cấp. Bệnh nhân có một giai đoạn hưng cảm kích thích, tăng khí sắc, nói nhanh là biểu hiện của rối loạn lưỡng cực. Bệnh nhân dùng rượu và ma túy có thể là rối loạn do sử dụng rượu hoặc rối loạn do dùng chất ma túy.
Để điều trị, bác sĩ căn cứ vào nguyên nhân và dạng rối loạn trầm cảm để dùng thuốc và trị liệu tâm lý, hành vi phù hợp. Người có dấu hiệu trầm cảm cần đến gặp bác sĩ để được tư vấn kịp thời, làm giảm và mất hoàn toàn các triệu chứng, phòng ngừa tái phát. 
Người bệnh không coi nhẹ triệu chứng trầm cảm, hãy kể hết triệu chứng cho bạn bè, cho người thân. Khi phát hiện người bị trầm cảm, phải trấn an, tìm hiểu, tìm cách quan tâm và giúp đi khám bác sĩ chuyên khoa sớm để tránh cơn trầm uất, thất thần quẫn trí. Bệnh nhân trầm cảm cần phải khám nhiều lần để điều trị, theo dõi đề phòng nặng thêm.

Thứ Hai, 23 tháng 12, 2019

Phát hiện biến thể gene gây vô sinh ở nam giới

Tái cấu trúc gene khiến các gene SYCP2 hoạt động tích cực hơn bình thường, ảnh hưởng khả năng sản xuất tinh trùng. 
Đây là kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Bệnh viện Phụ nữ và Brigham, mới đăng trên tạp chí American Journal of Human Genetics.
Năm 1991, nhóm nghiên cứu đánh giá các nhiễm sắc thể (NST) của một bệnh nhân nam 28 tuổi có lượng tinh trùng rất thấp, không thể thụ thai trong hai năm. Họ phát hiện các NST của người đàn ông này đã bị sắp xếp lại, một số phần của NST bị thiếu, nhân đôi hoặc di chuyển xung quanh, khiến gene SYCP2 hoạt động tích cực gấp 20 lần bình thường. Loại biến thể gene này cũng được tìm thấy trong cơ thể 4 người đàn ông có vấn đề sức khỏe sinh sản khác. 
Hợp tác cùng các nhà khoa học Đại học Munster, nhóm phát hiện sự gián đoạn của gene SYCP2 phổ biến hơn trong cơ thể những người đàn ông gặp vấn đề sinh sản.  
Dựa trên bất thường này, nhóm sử dụng tế bào và men trong phòng thí nghiệm, mô hình hóa lại sự tái sắp xếp của men, phát hiện cấu trúc mới này liên quan tới việc tạo các tinh trùng khuyết tật ở động vật có vú. 
"Sự sắp xếp lại NST làm rối loạn biểu hiện các gene quyết định quá trình tạo giao tử, hoặc tạo tình trùng, có thể dẫn tới vô sinh", Cynthia Morton, nhà di truyền học tại Bệnh viện Phụ nữ Bringham, đồng tác giả nghiên cứu nói. 
Biến thể gene SYCP2 được cho là nguyên nhân gây vô sinh ở nam giới. Ảnh: New Scientist
Biến thể gene SYCP2 được cho là nguyên nhân gây vô sinh ở nam giới. Ảnh: New Scientist
Để xác định rõ vài trò của SYCP2 trong vô sinh ở nam giới, nhóm cho hay cần nghiên cứu sâu hơn ở những đàn ông có biến thể gene SYCP2. Nhóm dự định thử tiến hành nghiệm lâm sàng, đưa gene SYCP2 vào sàng lọc di truyền cho nam giới để xác định cơ sở di truyền của vô sinh trong tương lai. 
"Hiện chúng ta đã có các công cụ tốt hơn để khám phá và có thể bắt đầu con đường tiến tới trị liệu", Cynthia nói. 
Phát hiện này giúp các nhà nghiên cứu giải thích nguyên nhân cho khoảng 50% ca vô sinh không rõ nguyên nhân từng được cho là do di truyền trước đây. 
Vô sinh là một trong những vấn đề phổ biến nhất ở độ tuổi 20-45, ảnh hưởng 10-15% các cặp vợ chồng. Bằng chứng cho thấy các bác sĩ không thể chẩn đoán nguồn gốc của vấn đề ở khoảng 40-72% nam giới. Trong số đó, khoảng 30-50% các trường hợp được cho là do di truyền.

Nữ cảnh sát hiến gan cho cậu bé chưa từng gặp

Sĩ quan Carolyn Becker hiến tặng thùy gan trái của mình và gây quỹ chi trả phí phẫu thuật ghép tạng cho Clyde Hofman 11 tuổi. 
Clyde Hoffman mắc hội chứng Alagille, một rối loạn di truyền hiếm gặp có thể ảnh hưởng đến gan, tim và thận. Tùy mức độ nghiêm trọng, người bệnh có các triệu chứng khác nhau. Một số người biểu hiện nhẹ, hầu như không ảnh hưởng đến sức khỏe. Có những người gặp vấn đề nghiêm trọng với gan, chức năng tim và thận, theo tiến sĩ Shikha Sundaram, Giám đốc y tế Chương trình Ghép gan Nhi tại Bệnh viện Nhi đồng Colorado.
Sĩ quan Carolyn Becker (phải) và đã hiến gan cho Clyde Hoffman (trái). Ảnh: CNN
Sĩ quan Carolyn Becker (phải) đã hiến gan cho Clyde Hoffman (trái). Ảnh: CNN.
Clyde Hoffman từng có một tuổi thơ vui vẻ và năng động, cho đến mùa xuân năm 2018 bắt đầu gặp khó khăn khi ăn, mất tập trung và thường xuyên mệt mỏi, chức năng gan giảm còn 10%. 
Bác sĩ cho rằng Clyde cần phẫu thuật ghép gan mới có cơ hội sống. Tháng 6/2018, Clyde được đưa vào danh sách chờ ghép gan. Chưa đầy một tháng sau, bệnh viện thông báo đã có người hiến tặng phù hợp. 
Người hiến gan cho Clyde là sĩ quan Carolyn Becker, từng làm việc tại Sở Cảnh sát quận Colorado, một bà mẹ hai con. Tháng 3/2018, cô đăng ký hiến gan thông qua một chương trình trực tuyến.
Ca phẫu thuật diễn ra vào tháng 8/2018. Bác sĩ đã cắt 1/3 gan của Carolyn và ghép thành công cho Clyde. Ngay lập tức, sức khỏe em cải thiện rõ rệt. Chứng vàng da dần thuyên giảm, cậu bé bắt đầu ăn uống bình thường.
"Lần đầu tiên, cháu đã ăn trọn vẹn một bữa. Cháu cảm thấy thèm ăn trở lại và điều này thật tuyệt vời", Clyde chia sẻ.
Gia đình Hoffman cũng vô cùng cảm động trước lòng tốt của Carolyn Becker. Việc hiến tạng trong khi thể trạng hoàn toàn khỏe mạnh được gọi là "hiến không định hướng" (non-directed donation). Điều này cực kỳ hiếm gặp. 
Năm 2018, Mỹ có 350 ca ghép tạng không định hướng, trong đó chỉ có 12 ca ghép gan, tính cả trường hợp của Carolyn và Clyde. 
Tiến sĩ Shikha Sundaram cho biết: "Tôi đã làm trong lĩnh vực này một thời gian dài. Tuy nhiên điều này vẫn khiến tôi vô cùng xúc động. Tôi không nghĩ có nghĩa cử nào cao đẹp hơn thế".
Bảy tháng sau ca phẫu thuật, Carolyn nhận được một bức thư cảm ơn từ Clyde. Trong thư, cậu bé viết: "Cảm ơn cô rất nhiều vì đã cho cháu cơ hội được sống. Cháu từng nghĩ điều này chẳng thể xảy ra. Giờ thì cháu có thể đi học, cháu không còn bị ngứa rát, vàng da và được sống cuộc sống bình thường. Cháu rất mong được gặp cô một ngày nào đó". 
Carolyn và tấm bảng gây quỹ. Ảnh: CNN
Carolyn và tấm bảng gây quỹ. Ảnh: CNN.
Lòng tốt của Carolyn chưa dừng lại ở đó. Sau khi tìm thấy trang web gây quỹ hỗ trợ viện phí ca cấy ghép do gia đình Clyde lập ra, cô quyết định giúp đỡ. Carolyn dành phần lớp mùa hè 2019, cầm một tấm bảng ghi dòng chữ: "Tôi đã hiến thùy gan trái cho một cậu bé 11 tuổi. Hãy giúp tôi quyên góp 20.000 USD chi trả hóa đơn cấy ghép cho cháu" và đi dọc lề đường tại New York.
Chỉ trong vài tháng, Carolyn gây quỹ thành công 10.000 USD. Cô gửi số tiền cho gia đình Clyde như một người ủng hộ ẩn danh. Clyde và cha mẹ không biết khoản đóng góp đến từ Carolyn, cho đến tháng 12 năm nay, sau lần gặp đầu tiên. 
Trong cuộc trò chuyện, Clyda đã kể cho cô nghe về ước mơ trở thành phi công. Gia đình em vô cùng cảm kích trước những việc tốt mà Carolyn đã làm, gọi đây là "món quà cứu sinh". 

Người sinh mùa xuân, hè dễ chết do bệnh tim mạch

Người sinh tháng 3-9 nguy cơ tử vong do các bệnh về tim cao hơn người sinh mùa thu, theo nghiên cứu mới của các nhà khoa học Mỹ. 
Các nghiên cứu trước đó được tiến hành tại nhiều quốc gia, trong đó có Thụy Điển, Đức, Nhật Bản, từng chỉ ra mối liên hệ tương tự giữa mùa, tháng sinh và nguy cơ tử vong sớm và tử vong do các bệnh về tim. Song, điểm hạn chế là chưa kiểm soát được đầy đủ các yếu tố như tiền sử bệnh của gia đình, tình hình kinh tế, xã hội. 
Để khắc phục những hạn chế này, các nhà nghiên cứu người Mỹ tiến hành phân tích dữ liệu của 116.911 nữ y tá độ tuổi 30-55 trong suốt 38 năm (bắt đầu năm 1976), nhằm kiểm tra mối liên hệ giữa thời gian sinh và tình hình tử vong nói chung, tử vong do bệnh tim mạch nói riêng. 
Các y tá được yêu cầu hoàn thành bảng câu hỏi chi tiết về sức khỏe và lối sống mỗi hai năm. Giấy chứng tử và hồ sơ bệnh án của họ cũng được sử dụng để xác định nguyên nhân tử vong. 
Kết quả, hơn 43.000 ca tử vong được ghi nhận, trong đó 8.360 ca tử vong do bệnh tim mạch.
Nhóm nghiên cứu cho rằng nguyên nhân gồm những thay đổi trong chế độ ăn uống của người mẹ ảnh hưởng tới dinh dưỡng của con, mức độ ô nhiễm không khí, lượng ánh sáng mặt trời cơ thể tiếp xúc trong giai đoạn thai kỳ và quãng thời gian đầu đời.  
Nghiên cứu mang tính quan sát, do đó không có chứng minh quan hệ nhân - quả. Nhóm khoa học cho biết cần nghiên cứu sâu hơn để làm rõ cơ chế ảnh hưởng của tháng sinh tới nguy cơ tử vong do các bệnh tim mạch. 
Các mùa trong nghiên cứu được tính theo các mốc: mùa xuân (từ ngày 21/3 đến 20/6), mùa hè (21/6 - 20/9), mùa thu (21/9 - 20/12), mùa đông (21/12 - 20/3). 

Cải thiện an ninh thực phẩm hộ gia đình phụ nữ nông thôn nghèo

Viện Dinh dưỡng (NIN) nghiên cứu cùng với các nhà khoa học của Đại học Ryers Canada với sự tài trợ của Tổ chức Nghiên Cứu Phát Triển Canada...